Chi Hội Khoa Học Lịch Sử Trịnh Hoài Đức > Tin tức & Sự kiện > Tham quan di tích văn hóa ở 2 tỉnh tiền giang và long an

Tham quan di tích văn hóa ở 2 tỉnh tiền giang và long an

Ngày 27/12/2015 vừa qua Chi hội Trịnh Hoài Đức đã tổ chức cho 15 hội viên đăng ký tham quan điền dã, khởi hành tại TPHCM lúc 7giờ30 tại đường Lý Thái Tổ Quận 3 và kết thúc lúc 17giờ tại điểm xuất phát

CHI HỘI TRỊNH HOÀI ĐỨC TỔ CHỨC CHO HỘI VIÊN ĐI THAM QUAN DI TÍCH VĂN HÓA Ở 2 TỈNH TIỀN GIANG VÀ LONG AN.

 

HỮU CHÍ

 

Ngày 27/12/2015 vừa qua Chi hội Trịnh Hoài Đức đã tổ chức cho 15 hội viên đăng ký tham quan điền dã, khởi hành tại TPHCM lúc 7giờ30 tại đường Lý Thái Tổ Quận 3 và kết thúc lúc 17giờ tại điểm xuất phát:

1/ Lăng Hoàng Gia

Đây là khu Lăng mộ và đền thờ Phạm Đăng Hưng, ông ngoại vua Tự Đức và là thân phụ của Từ Dũ thái hậu – vợ vua Thiệu Trị. Ông là người Gò Công, sinh năm 1764 tại Gò Rùa, nay thuộc ấp Lăng Hoàng gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang.

Năm 1784, Ông thi đổ Tam Trường và được bổ về kinh làm “Lễ bộ Thượng thư”. Do tính tình trung thực và có tài đức nên được vua Minh Mệnh khâm phục kết thông gia, gã công chúa cho một người con của ông tên Phạm Đăng Thuật và phong tước Phò mã Đô úy. Đồng thời, vua cho Thái tử Miên Tông kết duyên cùng con gái Phạm Đăng Hưng là bà Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). Về sau Miên Tông lên ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị.

Mùa hạ năm 1825 Phạm đăng Hưng mất vì bệnh (thọ 61 tuỗi), được đưa về Sơn Qui an táng.

Năm 1849, ông được vua Tự Đức gia tặng “Đặc tiến Kim Tử – vinh Lộc Đại phu Thái Bảo, cần Chánh điện Đại Học Sĩ” tước Đức Quốc Công.

1aa11a62-db06-499e-b868-f50382c85164

 2/ Lăng mộ và đền thờ Trương Định ở thị xã Gò Công

Sau khi Trương Định mất ngày 20 tháng 8 năm 1864, bà Trần Thị Sanh người vợ thứ của Trương Định đã nhận thi hài của ông mang về an táng trọng thể tại trung tâm huyện lỵ Tân Hòa, nay là phường 1 thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang. Ngôi mộ được xây dựng năm 1864. Mộ được xây bằng đá ong với hồ ô dước, chiều dài 9,95m, ngang 6,75m kể cả vòng tường.

Vòng tường ngoài có 4 trụ cao 1,16m, mỗi cạnh 54cm. Trên 4 trụ có 4 hoa sen. Vòng tường xây bằng đá xanh cao 70cm.

Năm 1945, nhân dân trùng tu ngôi mộ và khắc bia mới với những dòng chữ: “Đại Nam Thần Dõng, Đại Tướng Quân, Truy Tặng Ngũ Quân, Ngũ Quận Công, Trương Công Định Chi Mộ” và kế bên là dòng chữ nhỏ “Tốt Ư Giáp Tý, Thất Nguyệt Thập Bát Nhật” và một bên đề “Trần Thị Sanh lập thạch”.

Trước mộ có đôi liễng:

SƠN HÀ THU CHÍNH KHÍ

NHẬT NGUYỆT CHIẾU ĐAN TÂM

Ngôi mộ được trùng tu nhiều lần, tuy không nguy nga, lộng lẫy nhưng nói lên sự tôn kính và ngưỡng mộ công đức của nhân dân địa phương cùng chính quyền đối với người anh hùng dân tộc.

ea0e7fb5-3b27-4a37-9202-0abcaf422c25

3/ Đình thờ Trương Định ở Gia Thuận

Ngôi đình ban đầu là ngôi miếu. Vào những năm đầu thế kỷ 20, sau khi được nhân dân địa phương đóng góp tiền của xây dựng to rộng hơn, lúc này không gọi là miếu mà gọi là đình.

Hiện nay không gọi là đình mà lại gọi Đền thờ Trương Định ở Gia Thuận. Đền thờ tọa lạc tại ấp 2, xã Gia Thuận huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang. Đền được xây dựng với chất liệu cột kèo bằng gỗ quý, mái lợp ngói âm dương, kèo cột theo kiểu tứ trụ chồng rường. cột kê trên tảng đá xanh, nền lót gạch tàu, bó nền bằng đá tổ ong. Có 2 cổ đại bác có bánh xe đăt trước “Nhà trưng bày” bên cạnh Đền thờ. Gần đây, Tạp chí Xưa & Nay có tặng tượng đồng Trương Định thiết trí trước sân đền trong chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân”.

Di tích Đền thờ  Trương Định ở Gia Thuận là di tích cấp quốc gia cùng với di tích Đám lá tối trời  và di tích Ao Dinh có tên chung là:

“Các địa điểm có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Trương Định:

ĐỀN THỜ TRƯƠNG ĐỊNH, ĐÁM LÁ TỐI TRỜI, AO DINH”

7f7524e9-a607-47bc-bf97-673a61665656

4/ Nhà trăm cột

Nhà trăm cột tọa lạc tại ấp Cầu Ngang, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước tỉnh Long An.

“Kết cấu ngôi nhà xây dựng theo lối nhà Rường xuyên trính đặc trưng của xứ Huế, khung sườn nhà không sử dụng hàng cột cái ở giữa mà từng cặp cột cái nối liền với nhau theo chiều ngang nhà và được đóng chặt bằng một thanh gỗ xuyên ngang. Đây là ưu điểm của ngôi nhà với bộ khung luôn chắc chắn và không gian trong nhà thoáng đãng khi không có hàng cột ở giữa. Đặc biệt, trang trí trong kiến trúc của Nhà Trăm Cột đã cho thấy nghệ thuật điêu khắc của các nghệ nhân ngày trước ở vào trình độ bậc cao qua cách bố cục, thể hiện đề tài cũng như xử lý kỹ thuật. Toàn bộ hệ thống vì kèo, xuyên được chạm khảm, chạm nổi, chạm lọng rất công phu qua các đề tài “vân hóa long”, “tứ thời”, “dây lá hóa” mang đặc trưng của Huế. Các gian nội tự và ngoại khách là nơi tập trung cao nhất giá trị thẩm mỹ của công trình mà người xưa đã gửi gắm trên từng nét chạm. Đó là một tập hợp đa dạng, phong phú các đề tài cổ điển như “tứ linh (long-lân-quy-phượng)”, “tứ tiết (mai-lan-cúc-trúc”, “bát quả”; các mô típ thể hiện Phúc – Lộc – Thọ bên cạnh các đề tài phương Tây như hoa hồng, sóc – nho cùng các yếu tố Nam bộ như mãng cầu, bình bát, khế, măng cụt. Tất cả đã được các nghệ nhân thể hiện công phu trên các vách ngăn, vách lá gió, bàn thờ, bàn tròn, bàn dài…một cách điêu luyện và tài tình.

. Nhà Trăm Cột là công trình kiến trúc điêu khắc cổ. Công trình đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng  Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia năm 1997.

eac53d35-3536-4448-b9bb-5ebf5ea2bbc4


5/ Đồn Rạch Cát

Đồn Rạch Cát là pháo đài quân sự đồ sộ vào loại nhất nhì ở Việt Nam do thực dân Pháp xây dựng năm 1903 tại ấp Minh Long, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Đây là pháo đài phòng thủ ven biển kiên cố, kiến trúc độc đáo có vị trí chiến lược trong phòng thủ cũng như trong tiến công. Nơi đây ghi dấu ấn những sự kiện lịch sử quan trọng ở Cần Đước vào nửa đầu thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Đồn có chiều dài 300 m, chiều ngang 100 m; gồm 5 tầng (3 tầng chìm, 2 tầng nổi). Tường đồn dày 60 – l00 cm, khiến cho các gian hầm lúc nào cũng mát lạnh. Trên nóc tầng cao nhất có đặt khẩu trọng pháo 105 mm

Người Pháp đặt trên nóc pháo đài dàn đại bác hiện đại nhất của Pháp thời ấy, có thể khống chế cả một vùng rộng lớn ven biển. Các ụ pháo này tiếp tục được quân đội Sài Gòn sử dụng cho tới thập niên 1960, dùng để bắn “càn quét” vùng hạ huyện Cần Đước, tỉnh Gò Công, huyện Cần Giờ…. Hiện một số ụ pháo vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có các khẩu pháo là không còn.

e3b0fcda-89d6-4b92-9fa2-d235f58a499d

6/ Chùa Tôn Thạnh

Tổ đình Tôn Thạnh thuộc địa phận xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, có lịch sử hơn 200 năm tuổi, một di tích lịch sử đã được Bộ VHTT xếp hạng cấp Quốc gia ngày 27/11/1997 theo quyết định 2890-VH/QĐ, ngôi chùa duy nhất gắn liền với sự nghiệp văn chương của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, một ngôi chùa nổi tiếng từ lâu trong lịch sử và văn học.

Chùa Tôn Thạnh do thiền sư Viên Ngộ xây dựng vào năm Gia Long thứ 7 (1808) với tên chùa Lan Nhã (đến năm 1841 đổi tên thành chùa Tôn Thạnh).

Thiền sư Viên Ngộ, thế danh Nguyễn Ngọc Dót, con  ông Nguyễn Ngọc Bình và bà Trà Thị Huệ ở làng Thanh Ba tổng Phước Điền Trung huyện Phước Lộc, phủ Tân An. Thiền sư Viên Ngộ húy Tánh Thành thuộc Thiền phái Lâm Tế chi phái Liễu Quán đời thứ 39, từ nhỏ đã thành tâm hướng Phật với mong muốn cứu khổ cứu nạn chúng sinh. Ông không những là người con chí hiếu mà còn là một người đầy lòng từ bi bác ái. Khi cha bị bệnh, thiền sư đã thề trước Phật đài là sẽ ”trường tọa” 10 năm để kéo dài tuổi thọ cho cha. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong vùng có dịch đậu mùa, sư Viên Ngộ đã nguyện ”trì kinh niệm Phật, chung thân tịch cốc” để cầu cho nhân dân thoát khỏi cơn tai ách. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), ông thấy mình đã xuất gia 40 năm mà chưa đắc đạo nên tịch thủy 49 ngày rồi viên tịch tại chùa.

Pháp thân của ông được tăng chúng an táng ở bảo tháp phía tây chùa Tôn Thạnh. Tưởng nhớ đến một thiền sư suốt đời hy sinh thân mình để đem lại điều lành cho chúng sinh, nhân dân đã gọi chùa Tôn Thạnh là chùa Tăng Ngộ hay chùa Ông Ngộ. Mười sáu năm sau khi thiền sư Viên Ngộ viên tịch, chùa Tôn Thạnh đã đi vào lịch sử nước nhà với bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Trong ba năm 1859-1861 nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và làm thuốc. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm Tân Du, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người ”dân ấp dân lân”, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ.

“ Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, Tấm lòng son gởi lại bóng trăng rằm.

Dinh Lang Sa nửa khắc đặng rửa hờn, Chút phận bạc trôi theo dòng nước đổ….”

“Pho tượng Địa Tạng Vương bồ tát mà sử sách nhắc đến, ngày nay còn được tôn kính thờ tự tại gian chánh điện chùa Tôn Thạnh là pho tượng đồng, được đúc ngay sau khi xây dựng chùa Tôn Thạnh, có niên dăq5i đầu thế kỷ 19 (1813)…. Tượng Địa Tạng Vương bồ tát tại chùa Tôn Thạnh tương truyền được đúc 2 lần. Lần đầu do phía sau tượng còn một khe nứt nên lần sau tăng sĩ Viên Ngộ đã chặt một ngón tay cho vào nồi đồng. Lần này tượng được hoàn thành viên mãn. Tượng cao 110cm, tư thế ngồi trên mình đề thính. Đầu đội mão tỳ lư, mặc áo hậu vàng và khoác y hồng. Nhiều năm qua, áo và y được người dân tôn kính phết nhũ vàng và sơn hồng lên lớp đồng cổ xưa………………………………………………………………

……………………………………………………………………………….

Pho tượng Địa Tạng Vương bồ tát ở chùa Tôn Thạnh là một di vật quý, góp phần quan trọng vào việc giới thiệu phong cách mỹ thuật Phật giáo, kỹ thuật đúc đồng ở Nam bộ đầu thế kỷ 19 và đas85c biệt là cùng với sự tồn tại của pho tượng, có ngón tay “cúng dường” của thiền sư Viên Ngộ, vị tăng sĩ đã dành trọn cuộc đời mình cho sự no ấm và hạnh phúc của người dân Cần Giuộc, Long An”. (Trần Hồng Liên)

70178e1f-1584-4b9c-a9b4-6647a11dcff3